day

,

00

/

month

/

0000

Tiếng Việt

English

Phú Thọ phát triển nông nghiệp tuần hoàn tích hợp đa giá trị trong bối cảnh chuyển đổi xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đối với nông sản bền vững, mô hình nông nghiệp tuần hoàn nổi lên như một hướng đi tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Không chỉ dừng lại ở việc tối ưu hóa tài nguyên và giảm phát thải, nông nghiệp tuần hoàn còn mở rộng sang tích hợp đa giá trị, gắn với chế biến sâu, du lịch nông thôn và xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Tỉnh Phú Thọ - với đặc trưng là vùng trung du miền núi phía Bắc, đang đứng trước cơ hội chuyển đổi mô hình pháttriển nông nghiệp theo hướng tuần hoàn và đa giá trị. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa tiềm năng và mức độ phát triển hiện tại. Việc phân tích thực trạng, nhận diện các nút thắt và đề xuất giải pháp chính sách là yêu cầu cấp thiết nhằm định hình chiến lược phát triển bền vững giai đoạn tới.

Mô hình vùng chè nguyên liệu Long Cốc

Thực trạng phát triển nông nghiệp tuần hoàn: Bước khởi đầu còn nhiều khó khăn, trở ngại

Nông nghiệp tuần hoàn tại Phú Thọ bước đầu được triển khai đã hình thành những cấu phần cơ bản, đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Việc khoảng 90% xã, phường đã tiếp cận tư duy kinh tế tuần hoàn cho thấy sự chuyển biến tích cực về nhận thức. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi.

Trong trồng trọt, nguồn phụ phẩm nông nghiệp rất lớn (2–3 triệu tấn/năm), nhưng hiệu quả tái sử dụng còn thấp. Các mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh, sản xuất phân hữu cơ hay nuôi giun quế tuy đã xuất hiện, song mang tính thử nghiệm, thiếu tính lan tỏa. Một nghịch lý đáng chú ý là trong khi phụ phẩm dồi dào, thì việc tận dụng làm đầu vào cho chăn nuôi hoặc công nghiệp chế biến lại chưa phổ biến, dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường cục bộ.

Trong chăn nuôi, toàn tỉnh hiện có trên 90.000 công trình biogas, trong đó tỷ lệ chất thải rắn được xử lý, tái sử dụng đạt khoảng 75%, nước thải đạt 70%. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, tỷ lệ 25-30% chất thải chưa được xử lý triệt để phản ánh rõ hạn chế về công nghệ và quản lý. Nhiều hệ thống biogas chỉ xử lý được một phần, trong khi nước thải sau xử lý vẫn gây ô nhiễm hữucơ, thể hiện qua các chỉ số môi trường vượt ngưỡng cho phép. Đáng chú ý, trong 68 đơn vị hành chính cấp xã được khảo sát thì có tới 48,53% số đơn vị chưa có mô hình nông nghiệp tuần hoàn chính thức. Các hoạt động hiện nay chủ yếu mang tính tự phát, chủ yếu tập trung vào việc sử dụng hầm Biogas và chế phẩm sinh học để xử lý chất thải chăn nuôi (chiếm 32,71%), trong khi việc tái sử dụng phụ phẩm trồng trọt làm phân bón hữu cơ tại chỗ chỉ chiếm 26,17%. Điều này đặt ra câu hỏi về tính thực chất của quá trình chuyển đổi: Liệu đây là một chiến lược phát triển hay chỉ là những thử nghiệm rời rạc?

Nông nghiệp tích hợp đa giá trị: Tiềm năng lớn, phát triển chưa tương xứng

Tích hợp đa giá trị trong nông nghiệp là sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp và các giá trị văn hóa, giáo dục và du lịch trải nghiệm nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức lan tỏa của sản phẩm nông nghiệp. Mô hình này đang được triển khai thực hiện khá hiệu quả tại tỉnh Phú Thọ, tiêu biểu như đồi chè Long Cốc (nơi kết hợp sản xuất chè đặc sản với tham quan cảnh quan, trải nghiệm văn hóa đồng bào Mường), hoặc các mô hình nông nghiệp tích hợp đa giá trị theo chuỗi gắn sản xuất với chế biến - dịch vụ - du lịch - OCOP hay các vùng cây ăn quả kết hợp du lịch trải nghiệm như: Vùng bưởi Đoan Hùng; vùng cam Cao Phong, bưởi đỏ Tân Lạc, làng nghề mì gạo Hùng Lô…

Những mô hình này cho thấy khả năng gia tăng giá trị vượt trội so với sản xuất thuần túy. Việc gắn sản phẩm nông nghiệp với chương trình OCOP và du lịch nông thôn đã tạo ra các chuỗi giá trị mới, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất nằm ở tính hệ thống và quy mô. Phần lớn các mô hình vẫn mang tính nhỏ lẻ, thiếu chuyên nghiệp, chưa hình thành sản phẩm du lịch nông nghiệp có thương hiệu rõ ràng. Sự thiếu liên kết giữa các yếu tố (sản xuất - chế biến - dịch vụ - du lịch) khiến giá trị gia tăng chưa được khai thác tối đa. Và điều quan trọng nhất là vắng bóng sự đầu tư, vào cuộc các doanh nghiệp lớn hoặc các tổ chức có đủ năng lực điều phối chuỗi giá trị đa ngành.

Mô hình chăn nuôi lợn an toàn sinh học

Liên kết chuỗi giá trị có nhiều bước tiến mới

Trước khi sáp nhập, trên địa bàn ba tỉnh đã triển khai 34 dự án và 12 kế hoạch liên kết theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đến nay, tỉnh đã xây dựng 207 chuỗi cung ứng thực phẩm nông, lâm, thủy sản an toàn, với sự tham gia của 65 doanh nghiệp, 122 hợp tác xã và 60 hộ kinh doanh. Trong đó 100% sản phẩm được chứng nhận tiêu chuẩn an toàn, có truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đây là một bước tiến quan trọng, giúp nâng giá trị sản phẩm lên 15 - 20% so với sản xuất đơn lẻ.

Các chuỗi liên kết trong ngành hàng như bưởi, chuối, sữa hay chăn nuôi gia công đã chứng minh hiệu quả của mô hình hợp tác đa tác nhân. Nhiều chuỗi liên kết chủ lực đã khẳng định hiệu quả như: Chuỗi bưởi xuất khẩu (bưởi Đoan Hùng, bưởi đỏ Tân Lạc, bưởi Diễn Yên Thủy); chuỗi chuối tại Lương Sơn, Cao Phong; chuỗi chăn nuôi bò sữa tại Vĩnh Phú, Thái Hòa liên kết với Vinamilk và Cô gái Hà Lan, tiêu thụ ổn định khoảng 40 nghìn tấn sữa/năm cho 1.700 hộ dân. Trong chăn nuôi, các mô hình liên kết gia công với Dabaco, CP, Japfa Comfeed và dự án Vinabeef Tam Đảo đã tạo bước tiến về quy mô và công nghệ.

Đặc biệt, công nghiệp chế biến sâu - yếu tố then chốt để gia tăng giá trị - vẫn là “điểm nghẽn”. Dù có 242 cơ sở chế biến, 35 làng nghề chế biến nông sản. Trong đó có 18 doanh nghiệp sản xuất chè xuất khẩu, sản lượng trên 21 nghìn tấn/năm và được xuất khẩu sang các thị trường Nga, Pakistan, Trung Đông,... và một số thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật. Song, năng lực bảo quản sau thu hoạch và chế biến sâu còn hạn chế; hệ thống kho lạnh, kho sấy chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn, công nghệ lạc hậu, chưa đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Du lịch nông nghiệp: Động lực mới nhưng còn sơ khai

Phú Thọ sở hữu tiềm năng lớn để phát triển du lịch nông nghiệp nhờ tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú. Việc hình thành các tuyến du lịch kết nối Đền Hùng, Tam Đảo, Xuân Sơn… mở ra cơ hội tích hợp nông nghiệp với dịch vụ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy du lịch nông nghiệp vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu. Các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, phụ thuộc mùa vụ, thiếu tính trải nghiệm sâu. Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ chưa đồng bộ, trong khi năng lực tổ chức của cộng đồng địa phương còn hạn chế. Điều này cho thấy, nếu không có chiến lược đầu tư bài bản và dài hạn, du lịch nông nghiệp khó có thể trở thành một trụ cột trong mô hình kinh tế đa giá trị.

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số: Động lực quan trọng nhưng chưa lan tỏa

Xác định khoa học và công nghệ, chuyển đổi số là động lực then chốt tạo đột phá về năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh cho nông sản của tỉnh, ngành nông nghiệp Phú Thọ đã áp dụng nhiều giải pháp thiết thực, đưa các tiến bộ kỹ thuật mới vào toàn bộ chuỗi giá trị và bước đầu đã mang lại những kết quả bước đầu tích cực, từ phát triển giống mới, tự động hóa sản xuất đến truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử.

Hiện nay, Phú Thọ đã thực hiện 06 mô hình điểm ứng dụng chuyển đổi số gắn với đổi mới công nghệ chế biến gồm: Hỗ trợ máy nghiền gia vị và in ấn bao bì sản phẩm cho HTX sản xuất và kinh doanh Liên Hoa Chi; trang bị máy sấy lạnh và thiết kế bộ nhận diện thương hiệu cho HTX Nông nghiệp Sen Việt Đức; hỗ trợ máy vặn nắp, chai lọ, tem nhãn cho Hộ kinh doanh Vũ Hồng Sơn; trang bị máy nghiền và thiết kế thương hiệu cho HTX Sản xuất và chế biến NLN Trung Sơn; hỗ trợ bao bì, tem nhãn mứt bưởi cho Hộ kinh doanh Nguyễn Văn Quyết và dây chuyền máy móc chế biến thịt cho Công ty TNHH MTV Trần Thịnh. Các mô hình này không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn là những điển hình tiên tiến trong việc ứng dụng công nghệ số để kết nối thị trường.

Bên cạnh đó, việc sử dụng công nghệ GIS và viễn thám trong giám sát biến động rừng, ứng dụng cảm biến IoT, ứng dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, hay bản đồ nông sản số cho thấy tiềm năng lớn trong việc hiện đại hóa nông nghiệp.

Mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan, nhưng việc nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về vốn, hạ tầng và kỹ năng số. Không những vậy, quá trình chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp tuần hoàn và tích hợp đa giá trị của tỉnh Phú Thọ vẫn đang phải đối mặt với những rào cản, bất cập: Việc lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học trong quá trình canh tác không chỉ làm suy thoái chất lượng đất mà còn làm tăng phát thải khí nhà kính, trở thành nguồn gây ô nhiễm chính cho môi trường nông nghiệp nông thôn. Mặt khác, sự đứt gãy và thiếu bền vững trong các chuỗi liên kết giá trị dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các quy trình khắt khe như hữu cơ hay nông nghiệp tuần hoàn.

Một vấn đề quan trọng nữa là sự rào cản về nhân lực và tích hợp dịch vụ du lịch. Hiện nay, nguồn lao động nông nghiệp đang có xu hướng già hóa, thiếu hụt đội ngũ lao động trẻ có trình độ để tiếp cận công nghệ số và phương thức sản xuất mới. Song song đó, việc tích hợp đa giá trị giữa nông nghiệp và du lịch nông thôn còn đơn điệu, thiếu tính đặc trưng. Cơ chế chính sách đặc thù và bộ tiêu chí riêng cho du lịch cộng đồng gắn với nông thôn mới chưa hoàn thiện, khiến kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và du lịch chưa đồng bộ, làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm tích hợp trên địa bàn tỉnh.

Những vấn đề này cho thấy, chuyển đổi sang nông nghiệp tuần hoàn tích hợp đa giá trị không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là một quá trình tái cấu trúc toàn diện hệ thống nông nghiệp. Để thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy sản xuất thuần túy sang kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, đa giá trị, phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; gắn kết chặt chẽ sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến sâu, các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình OCOP và du lịch nông thôn, góp phần xây dựng nền nông nghiệp tỉnh Phú Thọ trở thành nền nông nghiệp hiện đại, bền vững xin đề xuất một số giải pháp sau:

Trước hết, cần chuyển từ “mô hình thí điểm” sang “hệ sinh thái tuần hoàn”. Điều này đòi hỏi xây dựng hạ tầng xử lý phụ phẩm nông nghiệp tập trung, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia.

Thứ hai, củng cố vai trò của hợp tác xã và doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị. Nhà nước cần hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, đồng thời tạo điều kiện để hình thành các doanh nghiệp “đầu tàu”.

Thứ ba, đầu tư mạnh vào công nghiệp chế biến và logistics. Đây là yếu tố quyết định để nâng cao giá trị gia tăng và giảm thất thoát sau thu hoạch.

Thứ tư, phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng chuyên nghiệp. Cần xây dựng bộ tiêu chí, sản phẩm đặc trưng và chiến lược marketing bài bản. Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch; xây dựng các tuyến, điểm du lịch kết nối khu du lịch trọng điểm với mô hình nông nghiệp tuần hoàn và cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP.

Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện. Tăng cường xúc tiến, ứng dụng công nghệ số, từng bước xây dựng thương hiệu du lịch nông thôn gắn với hình ảnh nông thôn mới của tỉnh Không chỉ dừng ở truy xuất nguồn gốc, mà cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp, hỗ trợ ra quyết định sản xuất và kết nối thị trường.

Phát triển nông nghiệp tuần hoàn tích hợp đa giá trị tại Phú Thọ là một hướng đi đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển bền vững, vừa giúp nâng cao thu nhập cho người dân và các doanh nghiệp, vừa góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, giúp tăng cường sự liên kết giữa người nông dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương, tạo ra một hệ sinh thái hợp tác chặt chẽ để cùng phát triển.