day

,

00

/

month

/

0000

Tiếng Việt

English

Kỹ thuật chăn nuôi gà nhiều cựa sinh sản theo hướng an toàn sinh học phù hợp với điều kiện sinh thái tỉnh Phú Thọ

Gà nhiều cựa là giống gà bản địa có nguồn gốc ở bản Cỏi, xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ (cũ) nay thuộc xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ. Giống gà này có đặc điểm ngoại hình rất đặc biệt là từ khi sinh ra chân gà đã mọc nhiều cựa (thường 6 - 8 cựa), chất lượng thịt thơm ngon, không chỉ phục vụ mục đích thực phẩm mà còn đáp ứng nhu cầu về tâm lý của người tiêu dùng trong việc lựa chọn các sản phẩm làm quà nhân dịp lễ Tết và dâng lên Tổ tiên, gắn với tâm linh lịch sử từ thời đại Vua Hùng. Đây là một giống gà quý, màu lông đa dạng (trắng, đen, hoa mơ, tía vàng,…), có khả năng chống chịu với các loại bệnh cao. Tuy nhiên, hiện nay gà nhiều cựa có số lượng ít, phân tán, thường bị lai tạp với các giống gà khác do đó chưa tạo ra được lượng lớn sản phẩm để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Do vậy, trong nhiều năm tới cần nhân rộng, phát triển chăn nuôi giống gà nhiều cựa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm bảo tồn nguồn gen quý, đồng thời tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ cho du lịch, góp phần tăng thu nhập bền vững cho người dân. Để đạt được mục tiêu đó, người chăn nuôi cần áp dụng biện pháp kỹ thuật chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học để phòng, chống dịch bệnh bảo vệ an toàn cho đàn gà và tránh lai tạp với các giống gà khác.

1. Về con giống
Gà giống khi nhập về nuôi phải có hồ sơ nguồn gốc đầy đủ từ nơi bán. Con giống phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn giống (đặc điểm màu lông, da chân vàng sáng bóng, chân có nhiều cựa, khỏe mạnh và không có dị tật). Nếu trong khu chăn nuôi có gà đang nuôi thì phải nuôi cách ly gà giống mới nhập ít nhất 02 tuần theo dõi, đảm bảo an toàn mới đưa vào chuồng nuôi chính. 
Gà nhiều cựa lúc 01 ngày tuổi có màu lông đa dạng (trắng đục, nâu nhạt và nâu sẫm), lông bông, chân có từ 5 cựa trở lên. Lúc 20 tuần tuổi gà trống có màu lông đỏ tía, vàng sẫm và pha tạp. Con mái chủ yếu có màu lông đa dạng: Vàng nâu, vàng sẫm, vàng rơm và màu lông pha tạp.

2. Về chuồng trại
Trên cơ sở tập tính của gà nhiều cựa và mục tiêu chăn nuôi, cần xây dựng, cải tạo chuồng trại theo phương thức nuôi bán chăn thả, có khu chăn thả ngoài trời để gà hoạt động. Chuồng trại cần đảm bảo những điều kiện sau: 
- Xây dựng trên vị trí cao ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tách biệt với khu ở và sinh hoạt của con người. Không nên xây chuồng gà chung với chuồng gia súc, gia cầm khác.  
- Nền chuồng được láng xi măng, đảm bảo thoát nước tốt và dễ làm vệ sinh tiêu độc.  
- Mái chuồng có thể thiết kế 1 hoặc 2 mái, được lợp kín đảm bảo chắc chắn và che mưa, che nắng tốt.   
- Xung quanh chuồng xây tường lửng cao khoảng 40cm, bên trên căng lưới thép hoặc làm bằng nan tre, đảm bảo độ thông thoáng; có hệ thống rèm che, có thể điều chỉnh linh hoạt để giữ ấm cho gà vào mùa đông và che mưa, bão khi cần thiết. 
- Chuồng được ngăn thành các ô, tùy diện tích nhưng ít nhất nên ngăn thành 2 - 3 ô để dễ quản lý đàn gà. 
Khu chăn thả: Cao ráo, thoát nước tốt không bị ngập lụt. Đảm bảo diện tích khoảng 1m2/con; có cây bóng mát, có hố tắm cát cho gà. Khu chăn thả phải được rào kín để ngăn chặn các loại vật nuôi, động vật hoang dã khác xâm nhập.

3. Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng gà

* Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng giai đoạn gà con (từ khi nở đến 8 tuần tuổi) 

Úm gà: Quây úm được làm bằng bạt, nên làm hình tròn để tránh gà con dồn vào góc đè lên nhau, độ rộng, hẹp của quây tùy vào số lượng gà nuôi; khay, mẹt cho gà con ăn và máng uống nhỏ được bố trí xen kẽ nhau trong quây, đảm bảo cho gà con ăn uống được thuận tiện; chụp sưởi thường treo ở giữa quây gà, tùy loại thiết bị mà treo cao 40 - 50cm, hay đặt cao 15 - 20cm so với mặt nền và có thể điều chỉnh dễ dàng. 

- Nhiệt độ thích hợp khi úm gà như sau: Tuần tuổi thứ nhất: 33 - 310C; tuần tuổi thứ hai: 31 - 290C; tuần tuổi thứ ba: 29 - 260C; tuần tuổi thứ tư: 26 - 220C. Quan sát biểu hiện của đàn gà để điều chỉnh nguồn nhiệt: Nếu thiếu nhiệt đàn gà sẽ nằm dồn lại bên dưới chụp sưởi ít đi lại, ăn uống kém, kêu nhiều...; nếu quá nóng thì đàn gà nằm tản ra xa chụp sưởi, xung quanh vòng quây, cạnh máng uống, há mỏ để thở. Nhiệt độ thích hợp gà phân tán đều trong quây đi lại, ăn uống bình thường. 

- Mật độ nuôi: Tuần tuổi đầu: Quây có đường kính 3m; mùa hè úm 350 con, mùa đông úm 500 con. Mật độ nuôi sau khi tháo bỏ quây là: 11 - 12 gà/m2 nền. 

- Ánh sáng: Khi úm gà có thể sử dụng bóng điện vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm cho gà. Nếu sử dụng nguồn sưởi bằng các thiết bị khác thì cần bổ sung thêm bóng sáng để kích thích khả năng tiêu thụ thức ăn của gà. Từ 1 đến 5 tuần chiếu sáng cả ngày lẫn đêm để cho gà ăn. 

* Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà hậu bị (từ 9 tuấn đến 20 tuần tuổi): 

- Mật độ nuôi: Giai đoạn gà hậu bị nuôi tách riêng trống, mái. Duy trì mật độ nuôi thích hợp, cụ thể như sau: Gà trống: Tối đa 5 con/m2 nền; Gà mái: Tối đa 7 con/m2 nền. 

- Ánh sáng: Giai đoạn gà hậu bị sử dụng hoàn toàn ánh sáng tự nhiên.  

- Máng ăn và cho ăn: Sử dụng máng ăn bằng tôn hoặc bằng nhựa có đường kính 50cm, đảm bảo mật độ 13 - 15 gà/máng. 

- Cho ăn hạn chế: Đối với gà nhiều cựa sinh sản, trong thời gian nuôi hậu bị cần cho ăn hạn chế. Mục tiêu là đạt khối lượng cơ thể chuẩn và độ đồng đều cao. Cho ăn 1 lần/ngày, đổ thức ăn đều tất cả các máng để toàn bộ gà được ăn một lượng thức ăn đều nhau. Sử dụng đúng chất lượng thức ăn theo tuổi của gà. Có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp chế biến sẵn, hoặc dùng thức ăn đậm đặc phối trộn với một số nguyên liệu tại địa phương dựa vào tiêu chuẩn thức ăn được khuyến cáo. 

- Máng uống và cho uống: Dùng máng uống dài thủ công, máng chuông hoặc máng nhựa 6 - 8 lít. Máng uống cần có chụp máng để hạn chế gà nhảy vào làm bẩn nước và vãi nước ra nền chuồng. 

- Chọn lọc và ghép trống mái: Tiến hành chọn lọc chuyển lên đẻ lúc gà 20 tuần tuổi. Loại bỏ những gà mái mào tích kém phát triển, khối lượng cơ thể quá nhỏ, có các dị tật. Khi chọn gà trống cần chọn những con khỏe mạnh, mào tích phát triển, chân, mỏ thẳng, cơ thể săn chắc.  

* Chăm sóc nuôi dưỡng giai đoạn gà đẻ

- Mật độ: Mật độ tối đa là 5 con/m2 nền chuồng. Vườn chăn thả, sân chơi tối thiểu 0,5 m2/con. 

- Ánh sáng: Bắt đầu kích thích ánh sáng lúc 20 tuần tuổi, đến 22 tuần đạt 12 giờ/ngày và tăng dần mỗi tuần 1giờ cho đến khi đạt 16 giờ chiếu sáng/ngày đêm. Cần tuân thủ nguyên tắc không giảm ánh sáng trong suốt thời kỳ đẻ. Dùng bóng điện có công suất 40W để thắp sáng cho gà. Bóng đèn được treo ở độ cao 2m so với nền chuồng, đảm bảo công suất chiếu sáng 4 W/m2 nền. 

- Máng ăn và cho ăn: Sử dụng máng ăn tròn bằng tôn hoặc bằng nhựa đường kính 50cm đảm bảo mật độ 13 gà/máng, cho ăn 1 - 2 lần/ngày. Chuyển thức ăn từ thức ăn gà dò sang thức ăn gà đẻ ở tuần tuổi 20. Lượng thức ăn cung cấp cho gà tăng theo tỷ lệ đẻ và phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, chất lượng thức ăn. Có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp chế biến sẵn, thức ăn đậm đặc phối trộn với các loại nguyên liệu sẵn có tại địa phương.  

- Máng uống và cho uống: Dùng máng uống dài thủ công bằng nhựa, tôn..., máng tự động hình chuông. Máng uống kê cao ngang tầm sống lưng gà, có chụp máng để hạn chế gà làm đổ nước ra nền chuồng. Hàng ngày rửa máng cho gà uống 2 - 3 lần, đảm bảo luôn có đủ nước sạch cho gà.  

- Ổ đẻ và nhặt trứng: 

Sử dụng ổ đẻ bằng tôn hoặc cót ép... mỗi ngăn ổ có kích thước 30cm x 35cm x 35cm. Có sào đậu phía trước giúp cho gà vào ổ được dễ dàng, đảm bảo mật độ 6 - 7 gà/ngăn. Ổ đẻ có thể treo ở hai bên vách lưới ngăn ô chuồng, các góc chuồng, cần lưu ý tránh kê ổ đẻ những nơi quá sáng. Ổ được kê với độ cao từ 25 - 30cm so với nền chuồng. Các ngăn ổ đẻ phải luôn có đủ trấu sạch với độ dày 5cm. Ổ đẻ được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày. Hàng ngày thu nhặt trứng ít nhất 4 lần để hạn chế trứng bị bẩn và dập vỡ. Khi thu nhặt trứng chú ý xếp trứng đầu nhỏ xuống dưới. Trứng được để ở nơi khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát. Hàng ngày trứng giống được chuyển vào nơi bảo quản. 

4. Quản lý, theo dõi đàn gà 

- Trong một chuồng chỉ nuôi một giống gà và cùng lứa tuổi. 

- Hàng ngày quan sát đàn gà khi cho ăn để có biện pháp xử lý kịp thời khi đàn gà ăn uống kém hoặc có triệu chứng bị bệnh. 

- Định kỳ loại thải những gà mái đẻ kém, ấp bóng. 

- Mỗi ô chuồng phải có sổ sách ghi chép số liệu đầu con, thức ăn, trứng sản xuất và biến động của đàn gà từng ngày. Ghi chép số liệu phải đầy đủ, chính xác và liên tục.